|
Chuyện xưa kể rằng, người La Ha có một quyển sách xem ngày tháng nhưng bị một
con trâu vô tình ăn mất. Từ đó, công việc và cuộc sống của họ gặp nhiều
khó khăn do không còn biết phân biệt ngày tốt, xấu. Người La Ha liền mổ
con trâu kia để lấy lại quyển sách, nhưng không thấy nên đã quyết định lấy
chiếc xương sườn của nó để khắc lịch. Ngược theo sông Nậm Mu, chúng tôi
vào xã Tà Mít (Than Uyên – Lai Châu ) đi tìm “báu vật La Ha” độc nhất vô
nhị ven trời Tây Bắc.
Ông thầy mo còn phép tính lạ Dãy Hoàng
Liên Sơn vắt ngang Tây Bắc đầy rẫy những cung đường huyền bí. Người ta đồn
rằng người La Ha ở bản Sài Lương (xã Tà Mít, huyện Than Uyên, tỉnh Lai
Châu) nằm trên dãy Hoàng Liên Sơn có bộ lịch bằng xương trâu nhưng những
thổ dân vùng Hoàng Liên Sơn cũng chỉ mới nghe nói chứ chưa ai thấy dù chỉ
một lần. Trước năm 2000, muốn vào Tà Mít khám phá thủ phủ của người La Ha
thì chỉ còn cách dùng thuyền độc mộc vượt con đường độc đạo ghềnh sóng
nước Nậm Mu dài hơn 40 km.
|
 Bộ
lịch bằng xương trâu duy nhất còn lại của người La Ha đang được
bảo quản tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.
|
|
 Ông thầy mo Hoàng Văn Păn ở bản Sài Lương dù không còn
chiếc lịch xương sườn trâu nhưng vẫn nhớ nguyên từng đốt khắc
trên chiếc lịch và có thể sử dụng 30 thẻ bói toán của người La
Ha.
|
|
 Người La Ha vẫn còn giữ tập tục giã gạo dưới gầm nhà
sàn.
|
|
 Một người đàn ông La Ha ở Tà Mít đang thổi sáo.
|
|
 Phương tiện giao thông chủ yếu của người La Ha ở Tà Mít
là đi lại trên sông Nậm Mu bằng thuyền độc
mộc.
|
|
 Bản Sài lương nằm nép mình bên thượng nguồn sông Nậm Mu –
nơi được người dân ở Hoàng Liên Sơn truyền miệng rằng có bộ lịch
bằng xương trâu duy nhất.
|
Hôm chúng
tôi vào tới bản Pắc Muôn, bản cửa ngõ của xã Tà Mít hỏi thăm thì dân bản
dẫn đến nhà thầy mo Hoàng Văn Ín. Ông Ín tiếc nuối kể rằng: Trước khi bố
ông (cũng làm thầy mo) qua đời, ông chưa kịp học cách xem lịch thì bố ông
đã mang bộ lịch ấy làm đồ tùy táng.
Chúng tôi
tiếp tục vuợt gần 10 cây số đuờng rừng, vào bản Sài Lương, nơi người dân
La Ha cho biết còn bộ lịch cuối cùng và cũng còn sót lại thầy mo Hoàng Văn
Păn, là người cuối cùng biết xem lịch. Theo các già làng nguời La Ha,
nguời xem đuợc bộ lịch sừng trâu xưa nay chỉ đếm trên đầu ngón tay mà
thường là các thầy cúng của bản, ngay cả những nguời ở bản từ khi sinh ra
cho tới bây giờ cũng chỉ nghe bảo có bộ lịch như thế chứ chưa thấy bao
giờ.
Đến bản
Sài Lương cũng phải chờ đợi trong thấp thỏm suốt 3 ngày ròng vị “pháp sư”
Hoàng Văn Păn mới từ nương trên rừng sâu về. Biết khách đường xa đến tìm
mình chỉ vì bộ lịch, ông bảo: “Tao tặng cho cán bộ văn hóa rồi. Dạy mãi mà
mấy đứa con có học đuợc đâu, rồi chết đi nữa thì không có người dùng,
người biết xem nên đưa cho cán bộ cầm về nghiên cứu thêm”.
Chiếc lịch
xương sườn trâu có trong cộng đồng người La Ha từ khi nào ông Păn cũng
không biết. Chỉ biết ông được bác ruột truyền lại, tính đến
nay nó đã gắn bó với ông hơn 30 năm. Dù đi bất kì đâu, khi lên nương hay
đi làm lễ cúng trong bản ông cũng mang theo nó.
Bộ lịch là
chiếc xương sườn trâu, chiều dài 30 phân, rộng hai phân, cong theo hình
chiếc lá, trên lịch ghi những kí hiệu cụ thể để đoán định ngày xấu tốt,
ngày cưới hỏi, làm nhà… Hiện giờ tuy không còn lịch sườn trâu, nhưng ông
Păn vẫn nhớ từng đốt khắc trên bộ lịch. Cả bộ lịch có mười đốt, mỗi đốt 3
vạch tuơng ứng với 30 ngày trong tháng. Theo ông Păn thì, ngày tốt trên bộ
lịch ghi là ngày con Rồng, vào ngày này có thể gieo lúa, làm nhà cưới
vợ….
Ngoài bộ lịch sườn trâu thì thầy cúng Hoàng Văn Păn
còn có bộ thẻ bói 30 chiếc đũa. Bọn tôi hỏi xem, ông bảo: “Khi dân bản cần
hoặc trong bản có sự việc trọng đại thì ông mới dùng."
Năn nỉ mãi ông thầy mo khó tính mới chịu làm
phép bói với 30 chiếc đũa để được mục sở thị. Nhìn những chiếc đũa cứ
thoăn thoắt nhảy múa trên tay ông thầy mo cho tới khi có những chiếc đũa
bị rơi xuống cũng chính là quẻ tương ứng với những điều tốt, điềm xấu của
người được xem.
Văn hóa La Ha đang bị mai một Mãi đến
những năm 70 của thế kỷ 20 người La Ha mới chọn cho mình vùng đất ở thượng
nguồn sông Tà Mít để làm chốn định cư. Theo ông Chẻo Văn Diết, cán bộ Ban
định canh, định cư của tỉnh Lai Châu từ những năm 70 cho biết: Khi ông
được cử vào Tà Mít để vận động người La Ha định canh, định cư và trồng lúa
nước thì người La Ha được nhân dân các dân tộc ở Tây Bắc gọi là người Xá
Lá Vàng (Xá Lá Vàng theo tiếng Thái có nghĩa là dân tộc du canh, du cư,
dựng nhà ở bằng lá rừng cho đến khi lá vàng đi thì lại di cư sang vùng
khác và dựng nhà mới). Cũng theo các thư tịch cổ và truyền thuyết vùng Tây
Bắc thì người La Ha xuất hiện ở vùng Tây Bắc Việt Nam khá sớm, vào khoảng
vào thế kỷ X.
Ngày nay,
trong các nghi thức cúng bản, cúng mường của người Thái ở Mường Than còn
có tục giết trâu trắng để tưởng nhớ đến thủ lĩnh người La Ha là Ăm
Poi đã có công khai phá cánh đồng Mường Than.
Trong
chuyến hành trình đi qua 7 bản của người La Ha ở thượng nguồn sông Nậm Mu
xã Tà Mít đều được nghe các già bản kể về các phong tục lạ của người La Ha
như: Lễ cúng bản, cúng rừng thiêng, lễ ăn cơm mới, các bài dân ca, nhạc
vũ…. nhưng ngày nay đã không còn nữa. Ông Hoàng Văn Sen, một thầy cúng
trong bản Sài Lương, cùng người cháu của mình dẫn chúng tôi vào tận khu
rừng cấm. Những lối mòn lên rừng rất nhiều, nhưng rất ít củi mục. Ông bảo:
“Dân bản không đuợc chặt cây lớn trong rừng, chỉ đuợc lấy củi mục, khi
những cành khô gãy rời thân cây”. Những cành củi mục trong khu rừng
đuợc coi là “lộc” mà các vị thần nguời La Ha ban phát… Lâu rồi dân bản
không tổ chức cúng rừng cấm nữa và bây giờ những người lạ như chúng tôi
cũng có thể đặt chân vào.
Trong cuộc
gặp gỡ lịch sử của người La Ha ở Tà Mít (Than Uyên – Lai Châu) và người La
Ha ở Mường La (Sơn La) tại Bảo tàng dân tộc học Việt Nam ở Hà Nội vào
tháng 7/2005 với chủ đề "Chúng tôi là người La Ha", họ đã trình diễn các
nét văn hóa độc đáo như thêu thùa dệt vải, đan lát, xem lịch xương trâu….
Nhưng qua sự điền dã của chúng tôi ở Tà Mít vào tháng 10/2008 thì
những nét văn hóa ấy giờ chỉ còn trong ký ức của người già và không xuất
hiện thường xuyên trong sinh hoạt của người La Ha nữa.
Lần theo vết dấu bộ lịch thì
chúng tôi được biết:
Hiện nay lịch
sườn trâu hiện đang trong kho bảo quản của Bảo tàng Dân tộc học Việt
Nam
. Mọi thông tin
về chiếc lịch này hiện nay chỉ được thể hiện rất ít ỏi bằng những dòng số
kí hiệu do Bảo tàng ghi lại để đánh dấu mẫu vật khi lưu trữ. Muốn hỏi thêm
thông tin thì chị Nguyễn Thị Sang, phòng Bảo quản của Bảo tàng cho biết:
“Do không có hồ sơ lưu, nên hiện vật hiện nay vẫn không có thông tin
gì”.
Chúng tôi
rời Tà Mít mà những bí ẩn về cách chế tác cũng như cách sử dụng bộ lịch
xương trâu của người La Ha vẫn còn chưa được giải mã. Thiết nghĩ, lịch
xương trâu là một viên ngọc quý trong kho tàng văn hóa các dân tộc Việt
Nam, vì thế nó cần phải được quan tâm gìn giữ cho người La Ha hôm nay và
mai sau./.
|
Dân
tộc La Ha còn được gọi với một số tên khác nhau như: La Ha, Klá,
Phlạo, Xá Cha, Xá Bung, Xá Khao, Xá Táu Nhạ, Xá Poọng, Xá Uống, Bủ
Hà, Pụa. Theo kết quả điều tra dân số năm 1999, tổng số người La Ha
tại Việt Nam khoảng 5.686 người sinh sống ở huyện Mường La (Sơn La)
và Than Uyên (Lai Châu). Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Ka
Ðai, (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
|
Bài và ảnh: Thông
Thiện
|